Việc công chứng, chứng thực khi giao dịch mua/bán nhà đất là điều kiện bắt buộc. Tuy nhiên, nếu không công chứng/chứng thực sẽ gặp rủi ro không mong muốn

- Quyền sử dụng đất (Sổ hồng/sổ đỏ) vẫn thuộc về bên chuyển nhượng/bên mua dù đã trả hết tiền cho bên bán
Theo qui định của pháp luật thì việc mua bán/chuyển nhượng chỉ có hiệu lực khi đăng ký vào sổ địa chính.
Nếu việc mua bán/chuyển nhượng nhà đất giữa cá nhân với nhau hoặc cá nhân với tổ chức mà không công chứng hoặc chứng thực hợp đồng thì sẽ không đủ điều kiện đăng ký biến động, khi không đăng ký biến động thì việc chuyển nhượng chưa có hiệu lực.
Việc chuyển nhượng chưa có hiệu lực dẫn tới tình trạng bên nhận chuyển nhượng (bên mua) đã trả hết tiền nhưng nhà đất vẫn thuộc về bên chuyển nhượng (bên bán).
- Bị bên chuyên nhượng (bên bán) đòi lại đất
Nhà đất là loại tài sản lớn, có giá trị và tăng nhanh theo thời gian. Thực tế mặc dù có chuyển nhượng nhưng vì chưa công chứng/chứng thực nên hợp đồng chuyển nhượng/mua bán chưa có hiệu lực giá trị pháp lý, lợi dụng điểm này, nhiều bên chuyển nhượng (bên bán) dễ nảy sinh lòng tham và đòi lại đất, khi đó phát sinh tranh chấp không đáng có
- Không được sang tên trên Sổ khi không được công chứng/chứng thực
Việc sang tên trên Sổ là rất quan trọng bởi nó đánh dấu dấu mốc “đất/nhà là của mình” và bên nhận chuyển nhượng (bên người mua) sẽ được pháp luật bảo vệ quyền lợi nếu có tranh chấp xảy ra với mảnh đất đó.
Một trong những bước quan trọng nhất trước khi thực hiện việc đăng ký biến động (hay thường được gọi là thực hiện sang tên tại Văn phòng/chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai) là các bên phải đi công chứng, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng/mua bán.
Văn phòng/chi nhánh văn phòng đăng ký đất sẽ chỉ chấp nhận hồ sơ sang tên khi người dân nộp đầy đủ hồ sơ, trong đó có hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng, chứng thực.
Theo qui định của Luật công chứng 2014, điều 42 : … chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản
- Không được đứng tên trên Sổ thì không có quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp
Theo khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định, người sử dụng đất chỉ thực hiện được các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở….
Như vậy, nếu muốn chuyển nhượng/mua bán quyền sử dụng đất cho người khác thì đất có phải có Giấy chứng nhận và Giấy chứng nhận đó phải đứng tên mình